TIN NHANH

Quy Nhơn Xưa

Địa Chỉ Lưu Trú

Kinh Nghiệm Du Lịch

Món Ngon Bình Định

Hiển thị các bài đăng có nhãn Món Ngon Bình Định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Món Ngon Bình Định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Chình mun Châu Trúc – Món ngon Bình Định khó quên

Bình Định vốn giàu tiềm năng về Du lịch, với những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa độc đáo mà còn rất nổi tiếng với các đặc sản ẩm thực rất đặc trưng níu chân du khách như: Bún chả cá Quy Nhơn, Bánh tráng, nem Chợ Huyện, chình mun Châu Trúc, chim mía Tây Sơn, tré, rượu Bầu Đá… rất rất nhiều sản vật hấp dẫn mà không nơi nào có được. Và trong có chình mun Châu Trúc.

Cá Chình có ở nhiều nơi như những vùng cửa sông, cửa biển, đầm phá nước lợ, các hồ nuôi tôm dọc bờ biển miền Trung và ở Bình Định. Cá Chình thuộc họ nhà Lươn, Chạch nhưng lớn hơn nhiều, có con nặng hàng ký. Đặc biệt, Chình mun thì chỉ có ở đầm Trà Ổ, cũng gọi là đầm Châu Trúc thuộc huyện Phù Mỹ. Gọi là Chình mun có lẽ vì da nó đen chũi như gỗ mun, nổi tiếng thơm, ngon và có giá trị bổ dưỡng rất cao.


Dân địa phương kể lại rằng trước đây Hoa Kiều ở Quy Nhơn mua Chình Mun về treo lên dùng bột gạo vuốt hết nhớt. Thứ bột gạo tẩm nhớt chình này làm món xúp là bổ nhất. Bởi vậy gặp con chình sạch hết nhớt là khó có người mua. Chình quý đầu tiên ở nước nhớt. Ngoài ra thịt chình có thể tiềm, chưng, xào, nấu canh nhưng hấp dẫn hơn cả là nướng và hấp. Con Chình Mun đã có mặt từ trước năm 1975 trong các tửu quán của Hoa Kiều Sài Gòn và một số nước trong khu vực.

Ngoài cách thức chế biến trên dân địa phương còn làm rượu chình ngâm nguyên một con chình mun vào vò rượu để khoảng hai tháng trở lên, uống trị thận, đau lưng.

Cá chình nấu măng hay nấu với lá giang là món có tính chất giã rượu. Cách nấu giống như nấu canh cá thông thường, nhưng rất ít nước và hầm kỹ để cho vị ngọt từ xương chình tiết ra. Chỉ cần một vài thìa nhỏ nước hầm chình ngọt lừ không hề nêm đường hoặc bột ngọt là đủ để khách cảm nhận được cái ngon của con chình mun nức tiếng là sản vật quý hiếm của Việt Nam. Chỉ cần lựa một con chình nặng cỡ 500 – 600 gr là đủ chế biến món ăn ngon từ chình.

Nguồn: Nhà Nghỉ Thu Trang



Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Bún rạm nức tiếng ở Bình Định

Búm rạm Phù Mỹ là một trong những món ăn dân dã nổi tiếng của Bình Định nhờ sự hòa quyện giữa những sợi bún tươi với nước rạm đậm đà, giàu hương vị.

Con rạm nhỏ hơn cua đồng với lớp vỏ cứng, mình dẹt, nhiều gạch, thịt ngọt và béo. Để làm món này, rạm phải chọn loại ở đầm Trà Ô mới có vị ngọt, thơm khác biệt. Thường những người sành ăn sẽ chọn những con rạm cái vì vỏ mềm, nhiều gạch, càng to, thịt chắc.
Rạm được ngâm cho sạch đất rồi rửa lại, xay nhuyễn, lọc nước như cách làm cua, nêm nếm gia vị rồi đem đun lên trên bếp lửa liu riu. Hành khô xắt nhỏ được phi thơm cùng mỡ hay dầu ăn rồi đổ vào nước rạm cho dậy vị thơm. Khi sôi, nước rạm sẽ sánh lại và nổi những váng thịt, váng mỡ đặc cả nồi nước.
Món bún rạm dân dã mà hấp dẫn thực khách gần xa bởi vị rạm béo, nhiều thịt và thơm ngon. Ảnh: saigonamthuc



Làm bún cũng lắm công phu, phải chọn loại gạo ngon rồi ngâm, xay nhuyễn và cho vào trong túi vải cho rút nước. Khi có khách gọi, chủ hàngsẽ làm bún tươi ngay tại chỗ nên khi ăn, bát bún vẫn còn nóng hổi và thơm mùi gạo.
Trên bề mặt tô bún vừa được làm, chủ hàng chan nước rạm sóng sánh những váng rạm vàng ươm, thơm nức, thêm chút chanh ớt, vài hạt lạc rang giã dối, ăn kèm rau sống.
Món bún rạm đơn giản là vậy nhưng khi ăn bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện giữa bún tươi và nước rạm, kèm chiếc bánh tráng gạo nướng. Thực khách vừa húp, vừa suýt xoa vì nóng hổi, tận hưởng vị ngọt ngào, thơm ngon của rạm Trà Ô.
Khám phá miền đất võ, ghé vào bất cứ quán bình dân nào bạn cũng dễ dàng để thưởng thức tô bún rạm với giá bình dân, khoảng 18.000 - 20.000 đồng một bát.

Anh Phương

Mâm gà nướng lu xôi cháy ở Bình Định

Những miếng gà mềm được ướp vị đậm đà, khi cho vào miệng sẽ cảm nhận được chút mằn mặn xen lẫn ngọt dịu, thường ăn cùng xôi cháy và kim chi.

Cách chế biến của người dân miền Trung lúc nào cũng đậm đà, dễ ăn. Gà nướng lu xôi cháy là món ăn điển hình khi con gà được ướp đều tay, cắn vào sẽ cảm nhận ngay lớp da vừa thơm vừa ngon. 
Mâm gà nướng lu xôi cháy ở Quy Nhơn, Bình Định. Ảnh: Thảo Nghi
Để chế biến món này, người dân sẽ chọn những con gà ngon, sau đó làm sạch, đem đi ướp gia vị toàn thân và cho vào lu nướng ở nhiệt độ cao trong khoảng một tiếng. Lửa tỏa đều trong lu làm cho gà chín đều, giòn tan và mùi thơm hấp dẫn.
Người đầu bếp cũng túc trực thường xuyên bên lu để bảo đảm gà không bị cháy xém. Gà được đánh giá là ngon khi lớp da giòn bóng, còn thịt bên trong mềm vừa phải. 
Phần xôi cháy cũng được nấu khá cầu kỳ sao cho lớp vỏ nóng giòn nhưng bên trong có phần tơi ra.
Cuối cùng khi đã hoàn tất từng công đoạn, gà sẽ được chặt ra thành từng phần nhỏ, xếp gọn gàng lên một chiếc mâm bọc giấy bạc, kèm xôi được tạo hình đẹp mắt. Người đầu bếp cũng không quên cho thêm chút rau răm, dưa leo để ăn cùng... Đặc biệt, món mâm gà nướng lu này còn được dùng với kim chi.
Khi ăn, bạn sẽ cảm thấy vị ngọt dịu và mằn mặn của gà, một chút xôi để trung hòa và kim chi mang đến vị chua... Bạn có thể thưởng thức món này ở quán trên đường Nguyễn Tất Thành nối dài, Quy Nhơn. Giá một phần gà khoảng 150.000 đồng trở lên. 
Thảo Nghi

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Về Tuy Phước ăn bánh xèo tôm nhảy rau mầm



Miếng bánh tráng mỏng gói bên trong là nhân tôm vừa mới chiên, thêm một chút rau mầm, vài sợi xoài chua đem chấm vào bát nước mắm tỏi ớt đậm vị, làm nên món ăn dân dã ngon đến bất ngờ của miền đất võ Bình Định.

Thú vị ngay từ cái tên, bánh xèo tôm nhảy từ lâu đã trở thành thức quà riêng có của quê hương Bình Định, đặc biệt là khu ven biển thành phố Quy Nhơn. Những người sành ăn thường rủ nhau mỗi cuối tuần tìm về tận nơi khởi nguồn ở thôn Mỹ Cang, huyện Tuy Phước (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km) để thưởng thức trọn vẹn nhất hương vị của món ăn này.

Món bánh đơn giản nhưng đậm đà nghĩa tình, nức tiếng gần xa của người dân đất võ. Ảnh: Duy Thịnh.
Điều hấp dẫn và đặc biệt nhất đối với những người lần đầu tiên thưởng thức bánh xèo tôm nhảy là nhân bánh chỉ độc một mình tôm. Mỗi cái bánh vàng ươm ra lò có chừng 7 đến 8 con tôm tròn mẩy, chín đỏ au nổi lên trên mặt bánh trông đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Có lẽ chính những con tôm đất tươi rói được bắt ở đầm Thị Nại hay sông Gò Bồi vào mỗi buổi sáng sớm dùng để làm bánh ấy khiến cho người ta liên tưởng đến món bánh với tên gọi nghe vui tai như vậy. Loại tôm này nhỏ, nhưng chắc và thơm thịt, khi chín sẽ đỏ au, ăn vào thấy ngọt bùi đến lạ. 
Gạo làm bánh được người làm kỳ công lựa chọn rất cẩn thận. Đó là thứ gạo thơm ở cánh đồng khu Đông, sau khi ngâm qua đêm cùng chút muối cho bớt chua sẽ được xay cùng bột nghệ và một chút nước cốt dừa. Nếu xay thủ công bằng cối đá bột sẽ càng dai, mềm mịn và ngon hơn. 
Bí quyết để có một chiếc bánh ngon là phải chiên trên chảo gang bằng than hoa và giữ lửa đều tay. Ảnh: Duy Thịnh.
Để chiếc bánh được thơm ngon, giòn đều, người ta thường chiên trên bếp củi, dùng miếng mỡ chài xoa đều một lớp mỏng lên mặt chảo, khi lớp mỡ nóng già mới đổ bột bánh vào, nhanh tay cho tôm và rắc vài mầm giá đỗ, hành lá xắt khúc rải lên trên cho thêm phần hấp dẫn. Chỉ chừng 3 phút sau, bánh đã tỏa mùi hương thơm lựng đầy mời gọi. Đến khi mặt dưới của chiếc bánh vàng giòn, viền bánh co lại và giá đỗ tái đi là có thể đem ra dùng nóng.

Món ăn chơi còn được người dân ở đây dùng thay cơm vào những ngày nắng nóng. Ảnh: Tuấn Tuấn.
Người dân Tuy Phước thường ăn kèm rau mầm với bánh xèo tôm nhảy cho bớt ngán. Loại rau xanh mươn mướt ấy ăn hơi the cay nhưng rất mát và bổ, cùng với xoài chua thái sợi và vài thứ rau sống khác. Khi ăn, tất cả được cuộn trong miếng bánh tráng chấm mắm tỏi ớt nữa mới đúng điệu. Người thích vị đậm hơn còn ăn kèm với vài tép tỏi tươi đến từ vùng Lý Sơn, để hương vị càng thêm nồng đượm. 
Bánh xèo tôm nhảy rau mầm rất dễ ăn, chiều lòng được cả những vị khó tính nhất bởi cái chất dân dã quyện hòa và hương vị thanh mát, thơm ngon không dễ gì quên được. 
 Lê Thương

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Thương thầm Bánh ít lá gai

Bánh vừa hấp xong, ăn nóng hổi hoặc nguội đều ngon. Bánh đen nhánh, bọc kín lấy nhân, khi ăn thật dẻo, thật mịn, nhai một chút sẽ thấy bột nếp dẻo quánh, đậu bùi ngọt, dừa béo ngậy thêm chút cay của gừng, ngan ngát thơm hương nếp mới quyến luyến hương lá gai.
Ở Bình Định, sau đám giỗ chủ nhà thường gói lại một vài cái bánh biếu khách mang về cho trẻ con. Bánh ấy có hình như một cái tháp nhỏ màu đen nhánh mà thơm ngon dẻo ngọt vô cùng. Đó là cái bánh gai mà câu ca đã nhắc:
Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

Ở Bình Định có cụm tháp Chăm gồm bốn ngọn tháp có tên gọi là Bánh Ít. Tháp cổ kính uy nghi soi bóng xuống dòng sông Kon xuôi về Tuy Phước. Chẳng biết hình dạng bánh, tên gọi bánh có liên quan gì đến bốn ngọn tháp Chăm kia không nhưng người ta cứ thấy vương vấn vị cổ xưa trong chiếc bánh dễ thương, dễ mến của người dân đất võ.

Nguyên liệu dễ kiếm, bánh dễ làm, bánh ít lá gai nho nhỏ cứ thế được làm quanh năm thành món quà thơm thảo được trao, được nhận, được mang đi khắp nơi để ai muốn ăn không ngại đường dài.



Lá gai

Lá gai được trồng trong vườn, lá hai mặt, một mặt xanh, một mặt trắng bạc, hơi thô nhám. Làm bánh chọn lá mướt, không bị sâu,rửa sạch, luộc chín, để ráo nước, gỡ từng gân lá rồi giã cho nhuyễn và mịn như bột. Chọn loại nếp mới còn lưu hương thoang thoảng, hạt đều, căng mẩy, không lẫn tẻ, vo sạch, ngâm chừng 4 tiếng rồi đem xay. Bột ấy lại cho vào một cái túi vải, buộc chặt tìm chỗ cao thoáng treo lên cho nước trong bột ra hết.

Tiếp tục trộn lá gai đã giã nhuyễn chung với bột nếp và đường thắng dẻo, một chút muối dằn cho đậm đà sau đó dùng chày quết cho các thức kia quyện chặt vào nhau tạo thành một khối đen tuyền, quánh dẻo. Để bột không dính vào chày, thì thoa một ít dầu mè, dầu phụng vào đầu chiếc chày.


Nhân bánh được làm từ đậu xanh bóc vỏ, dừa và đường. Dừa bánh tẻ (loại dừa không quá già cũng không quá non) được bào sợi mịn xào chung với đường cho thấu rồi cho đậu xanh đã nấu chín đánh mịn thành bột, thêm chút gừng giã, hạ lửa liu riu rồi đều tay đảo cho nhân trộn lẫn đến khi có màu vàng sậm là chín.

Nhân bánh ít lá gai tương tự như bánh ít ngâm tro của người miền Tây vậy. Nhưng để bánh ít lá gai thực ra chất bánh ít lá gai vì không vin vào nhân “tương tự” kia mà chính là vỏ bánh bao ngoài.

Nhân vo tròn, bột bao ngoài nhân tạo hình tháp, rồi thoa đều dầu phụng thắng chín cho bánh láng mượt và không dính lá, gói bánh bằng lá chuối chát (chuối hột) phơi nắng cho dẻo rồi đem bánh hấp cách thủy cho đến chín. Người cẩn thận, kĩ tính thì hấp bánh trần, bánh chín mới gói lại để lá chuối có màu xanh đẹp mắt.



Bánh vừa hấp xong, ăn nóng hổi hoặc để nguội đều ngon. Bánh đen nhánh, bọc kín lấy nhân, khi ăn thật dẻo, thật mịn mà không dính răng, nhai một chút sẽ thấy bột nếp dẻo quánh, đậu bùi ngọt, dừa béo ngậy thêm chút cay của gừng, ngan ngát thơm hương nếp mới quyến luyến hương lá gai. Rồi hương ấy, vị ấy quyện vào nhau tạo nên vị ngon rất khó tả.



Người Bình Định làm bánh ít lá gai trong các dịp lễ tết, giỗ chạp, cưới hỏi. Làm bánh không làm một mình được mà phải quay quần nhau mà làm, có nam, có nữ bởi sự tỉ mẩn của các công đoạn làm bánh cần sự khéo léo của phụ nữ nhưng khi quết bột lại cần sự khỏe mạnh của người đàn ông và đó cũng là cách để con cháu bày tỏ sự hiếu thảo với ông bà cha mẹ qua chiếc bánh nhỏ xinh.

Một số vùng ở Bình Định bánh ít còn góp mặt trong mâm quả “hồi dâu”. Khi “hồi dâu”, cô dâu mới xếp bánh ra đĩa, đặt lên bàn thờ gia tiên rồi hai vợ chồng trẻ thắp hương trước sự chứng kiến của cha mẹ. Chiếc bánh ngọt thơm có thêm ý nghĩa tượng trưng thủy chung, hiếu thuận của đôi vợ chồng.

Ở Bình Định, bánh ít lá gai không chỉ là món ngon trong nhà nữa mà đã đi muôn phương. Có rất nhiều cơ sở làm bánh ít lá gai làm theo phương pháp truyền thống để được lâu, khoảng 1 tuần nên việc đem đi xa làm quà không mấy e ngại.

Bà Phạm Thị Dư (Tuy Phước) gần 70 tuổi mấy mươi năm làm bánh ít lá gai kể gia đình bà dễ có đến hơn trăm năm làm bánh ít lá gai. Khi còn nhỏ bà đã thấy bà nội làm rồi đến má. Bà nội với má gói nhân chín vào bột sống, gói trực tiếp vào lá chuối nên bánh không để được lâu và lá chuối mất đi màu xanh tươi mát. Bà khắc phục hai khuyết điểm trên bằng cách hấp chín bánh rồi mới gói bằng lá chuối tươi hơ qua lửa lau sạch. Bánh để được lâu và giữ được màu lá chuối, bánh không chỉ ngon mà còn đẹp mắt.



Người xưa kể lại rằng có một người đàn ông nọ thường bán ở chợ loại bánh bằng bột nếp gói trong lá chuối, ai hỏi bánh gì người đàn ông ấy chỉ cười nói chưa tìm được tên để đặt. Bánh ngon, nhiều người mua nên mau hết hàng, nếu muốn ăn bánh mà ra chợ muộn thì chỉ có nước mà đợi đến phiên chợ sau mới có.

Thường thì khi mua người ta sẽ nói: “Bán cho tôi mấy cái bánh mang về cho con”, phiên chợ ấy ông chỉ còn lại một hai cái, có một người phụ nữ đến rụt rè nói: “Bán cho tôi ít bánh đặng mời mẹ chồng của tôi ăn thử. Bà cụ có nhắc đến bánh này”. Người đàn ông chợt sững lại vì ngạc nhiên rồi xúc động… Đưa bánh cho người con dâu thảo hiền nọ người đàn ông đó nói: “Tôi lấy nếp ruộng, rau nhà, đậu vườn làm bánh mà cũng chưa kịp nghĩ cho nó một cái tên. Tôi bán bánh đã lâu nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy có một cô con dâu mua bánh cho mẹ chồng. Thôi thì tôi đặt cho nó tên là “bánh ít” như câu nói của cô: “Mua ít bánh” để ghi nhớ chuyện này”.


Câu chuyện trên được kể thực hay hư thì người viết không được biết rõ nhưng khi người viết lặng ngắm 4 ngọn tháp Bánh Ít ở Phước Hiệp đứng trong mưa nắng, bão, lũ vẫn sừng sững, vững vàng mấy trăm năm nay, tay cầm gói bánh ít lá gai bạn vội đưa khi tôi chuẩn bị rời Bình Định thì trong lòng chợt nghĩ có lẽ khi dựng tháp thì người Chăm ở Bình Định xưa đã biết sáng tạo ra thứ bánh gom góp cây lá quê nhà, nặn hình tháp dâng lễ rồi phổ biến trong dân gian chăng?

V.H

Dẻo thơm bánh hồng Tam Quan

Ở làng quê xứ Nẫu, khi có ai hỏi bạn 'Bao giờ cho mình ăn bánh hồng?', có nghĩa là khi nào thì bạn làm đám cưới.
Nguyên liệu chính của bánh hồng là bột xay từ nếp. Nếp phải lựa loại nếp ngự mới, độ dẻo cao đem rửa sạch, vò kỹ, ngâm qua đêm để nếp ngấm đủ nước rồi xay thành bột nước. Bột được ép ráo, nhồi thật dẻo và vón thành cục nhỏ, luộc chín. Trong quá trình luộc bột phải canh lửa để bột đủ độ chín tới, không bị "ngoài chín, trong sống" hoặc quá chín thì bánh sẽ mất ngon.

Khi bột gần chín, cũng là lúc phải làm khâu tiếp theo là thắng đường cho nóng chảy. Để kiểm tra xem đường đã chín hay chưa, người thợ làm bánh thường nhúng đôi đũa vào chảo đường nóng, nhấc đũa lên và kéo rời hai chiếc đũa ra, nếu sợi đường không đứt thì chảo đường coi như đã đạt yêu cầu.





Bánh hồng là món bánh dùng trong ngày cưới hỏi của người Bình Định.

Bột đã chín, đường cũng đã chín, người làm bánh nhanh tay vớt bột cho vào chảo đường, dừa được bào thành sợi cũng cho vào luôn, sau đó khuấy nhanh, đều để bột và đường tan vào nhau. Sau khi bột đã tan đều, hạ lửa riu riu và vẫn phải khuấy đều để bột không bị quyện. Khi dùng tay sờ vào bột mà không bị dính tay, bánh tỏa mùi thơm thì lúc đó bánh đã chín. Vớt bánh trong chảo ra, cho vào khuôn đã được rải sẵn bột nếp khô, dùng đũa dần bánh dày khoảng 3 - 4 cm rồi rải thêm một lớp mỏng bột nếp khô lên bề mặt, đợi bánh nguội là có thể dùng được.

Khi ăn, dùng dao bén xắt bánh hồng thành từng miếng hình thoi, sắp ra đĩa, nhâm nhi cùng ly trà nóng. Vị ngọt thanh tao của đường, cái dẻo của bột nếp, vị béo giòn của dừa tạo nên một hương vị đặc biệt. Những đôi uyên ương chọn bánh hồng để gửi gắm ước mơ về mối tơ duyên keo sơn như sự kết dính bền chặt của bánh hồng.




Đặc sản bánh hồng. 

Bánh hồng thường có màu trắng đục của nếp và đường. Người ta cho thêm màu thực phẩm để bánh hồng hoặc xanh. Loại bánh này chỉ bảo quản được khoảng 5 ngày nên không được bán rộng rãi, vì thế bánh hồng vẫn chưa được nhiều người biết đến. Khi đi ngang xứ Nẫu, đặc biệt là Tam Quan, hãy nhớ dừng lại thưởng thức vị ngọt ngon của bánh hồng.

Duy

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Cua huỳnh đế


Cua huỳnh đế là đặc sản của vùng biển Tam Quan và Ðề Gi (Bình Ðịnh). Cua huỳnh đế có bộ áo giáp dày và cứng, màu vàng rực như hoàng bào, li ti gai nhọn xuôi theo thân, que và càng to, cạnh sắc lẻm như dao, khác hẳn với các loại cua khác.
Có nhiều cách chế biến cua huỳnh đế như hấp, nướng… Đặc biệt, người dân địa phương còn chế biến loại cua vua này thành món um mặn ăn với cơm hay nồi cháo cua huỳnh đế có lớp mỡ hành vàng sánh ở trên, lẫn với nước gạch màu đỏ cùng những thớ thịt màu trắng của cua.

Bún song thằn


Sở dĩ có tên gọi "song thằn" vì khi làm bún, người ta thường bắt dây bún từng đôi một. Bún song thằn nổi tiếng vì có hương vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao vì làm từ đậu xanh.


Cách làm món bún này khá kỳ công. Đậu xanh đem phơi nắng cho thật khô rồi đem ngâm nước lạnh độ một ngày một đêm cho nở đều mới đem xay. Lúc xay phải tốn sung thật nhiều nước sông Kôn lắng qua nhiều đợt thì bún mới đạt đổ dẻo, mềm. Trung bình 5 kg đậu chỉ làm thành 1kg bún, nên món bún này có giá thành khá cao.
An Thái là nơi bạn có thể thưởng thức tại chỗ một tô bún song thằn nấu với lòng gà hay mua một vài kg làm quà cho bạn bè và người thân.

Rượu Bàu Đá

Quy Trình Nấu Rượu Bàu Đá

Rượu Bàu Đá có nồng độ rất cao, hơn 50 độ, uống nhanh say nhưng say rồi không thấy mệt. Muốn có rượu ngon, người nấu phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn nước, gạo, men, dụng cụ nấu, cộng với kinh nghiệm gia truyền. Khi nấu rượu, cũng không dùng nồi nhôm mà dùng nồi đồng, nắp đậy bằng đất nung; cất rượu bằng ống tre. Và phải chưng bằng lửa nhỏ mới vắt cạn được tinh chất gạo.


Bánh xèo Mỹ Cang


Bánh xèo Mỹ Cang ngon là nhờ các thành phần đều được chế biến từ đặc sản địa phương. Như gạo phải được xay từ loại lúa ở cánh đồng khu Đông. Tôm phải là loại tôm đất sống nước lợ ở đầm Thị Nại. Nước chấm phải được pha chế từ loại nước mắm nguyên chất...
Bánh xèo ăn kèm với là bánh tráng gạo nguyên chất, rau sống, một ít xoài và dưa leo xắt mỏng và chén nước mắm vàng ươm ngọt ngào hương vị miền biển. Cái ngọt của tôm tươi, cái giòn giòn của gạo đủ lửa và một chút chua, chát của xoài và chuối chát, quyện tất cả lại thành một món ăn vô cùng hấp dẫn.

Bánh hỏi Diêu Trì

Bánh hỏi là đặc sản của Bình Định, thịnh và ngon nhất là ở Diêu Trì (Tuy Phước). Cách chế biến món bánh này như sau: Gạo tám thơm được vo kỹ, ngâm nước một đêm, vớt ráo, xay nhuyễn bằng cối đá - Bột nước cho vào bao vải khô, "đăng" cho ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là "giảo" bột đưa vào khuôn ép thành bánh. Bánh được hấp vừa đủ chín.



Bánh hỏi thưởng được ăn kèm với thịt nướng song nếu vào một quán bánh hỏi ở Diêu Trì, khi gọi món này là bạn sẽ được thưởng thức thêm hai món nữa, đó là cháo và lòng.



Cháo khá loãng, nấu bằng huyết ninh với thịt nạc băm. Cạnh tô cháo nóng là đĩa lòng heo với những miếng gan dày, miếng dồi màu nâu, khoanh tròn bên cạnh những miếng tim deo dẻo, miếng cổ dai dai giòn giòn, miếng bầu dục mong mỏng. Những thứ này ăn kèm với bánh hỏi, khiến bánh hỏi trở nên béo bở, ngon ngọt khác thường.


Gié bò Tây Sơn


Gié bò là món ăn chế biến chủ yếu từ ruột non của bò. Gié bò không phải là món dễ ăn và chỉ người sành ăn mới khoái khẩu.
Khi mổ bò, chọn khúc ruột non ngon nhất, còn tươi, bên trong ruột còn chất nhầy trong xanh gọi là gié. Xổ phần gié trong ruột non ra, ruột để riêng. Ướp muối, tiêu, hành, tỏi băm nhỏ vào gié trong mươi phút cho ngấm. Sau đó đun nóng dầu, phi hành thơm, cho gié đã ướp vào xào cho chín. Đổ nước dừa tươi vào nấu sôi khoảng 15 phút, vớt kỹ bọt, để nguội lấy nước trong.
Ruột non, gan bò cắt đoạn hoặc miếng vuông, ướp với hành, tỏi, muối, tiêu. Phi nóng dầu xào cho gan và ruột dậy mùi thơm rồi để nguội. Phần huyết bò khi mới cắt tiết đem luộc chín, cắt cỡ miếng gan. Tất cả các nguyên liệu trên được cho vào nồi nấu chung với nước gié. Trong lúc nấu cho thêm sả cây, gừng nướng, tai vị đập dập để khử mùi. Tiếp đó cho là giang rửa sạch, vò nát để nồi gié có vị chua. Nêm gia vị lại cho vừa ăn là được.
Tô gié nóng hổi, nước gié màu nâu hơi có chút ánh xanh. Dọn thêm bún tươi, rau sống và bánh tráng mè nướng. Mùi cay nồng của ớt, gừng, sả, vị chua của lá giang, vị ngọt thanh của nước dừa, vị đắng nhẹ của gié, vị nhân nhẫn của mật bò ăn với bún và rau sống thật hợp.

Bún tôm Châu Trúc



Để có một tô bún tôm Châu Trúc ngon phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ. Đầu tiên là làm bún. Gạo được ngâm vào nước cho mềm rồi mang đi xay rồi cho vào túi vải đăng ráo nước, sau đó đưa vào cối giã nhuyễn. Mỗi cối bột là một dặn, người bán bún ép bún từ dặn, bún chạy thẳng vào nồi nước luộc. Tôm dùng làm bún phải là những con tôm đất được đánh bắt từ đầm Châu Trúc, hãy còn sống, nhảy tanh tách, bỏ vào cối giã nhuyễn cùng với tí muối, tí ớt...
Khi có người đến ăn bún, người bán dùng đũa gẩy một đũa thịt tôm cho vào bát, cho chút bột ngọt, nước mắm, múc nước luộc bún đang sôi đổ vào bát khuấy đều, sau đó cho bún vào, rắc mấy cọng hành ngò, chút tiêu. Món này dọn kèm với bánh tráng nướng giòn thơm.

Mắm nhum Mỹ An


Nhum có nhiều loại, để muối mắm phải là nhum ta màu đen. Cách chế biến như sau: Cắt sơ những chiếc gai nhọn tua tủa xung quanh con nhum rồi khoét một lỗ ngay miệng nhum, khéo léo khèo lấy thịt nhum cho vào chum sành, rắc một ít muối hạt lên trên, rồi đem vùi vào bếp tro hoặc "giang" nắng từ 10 đến 15 ngày. Mắm nhum chín, nhuyễn tan, sền sệt, mầu đỏ đục, thơm nức.
Mắm nhum không phổ biến như các loại mắm khác nên nhiều lúc, có tiền cũng không thể mua được vì không biết nơi bán, hay người có cũng chỉ dùng đãi khách quý hoặc để dành tặng người thân.

Bún chả cá Quy Nhơn

Điểm nhấn của món bún chả cá Quy Nhơn là phần chả cá là được làm từ những con cá thu mập mạp, bóng bẩy, thịt ngọt và phải quết sao cho miếng bánh chả láng mịn, tròn dày vừa phải, cùng nước lèo được nấu từ xương và đầu cá thu, trong veo, ngọt tự nhiên.
 
Sitemap Copyright © 2014 Khách Sạn THU TRANG - 16 Chương Dương - Quy Nhơn
Powered by Nhà Nghỉ Thu Trang